1. Kết quả kinh doanh
LNTT tăng trưởng mạnh mẽ đạt mốc 7,095 tỷ đồng (+50% YoY).
Tăng trưởng lợi nhuận này đóng góp lớn bởi: Khoản lãi bất thường đánh giá lại khoản đầu tư khi hợp nhất Chứng khoán HD (HDS) (~1,078 tỷ) và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh (từ mức ~4,141 tỷ của Q2/2025 xuống còn ~2,569 tỷ ở Q2/2026). Thu nhập lãi thuần giảm nhẹ so với cùng kỳ do áp lực NIM.
2. Tăng trưởng tín dụng & huy động
HDB vẫn cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng ở cả ngân hàng mẹ lẫn HDSaison. Tăng trưởng tín dụng hợp nhất YTD đạt 18.7%, hơn nửa room tín dụng được cấp trong năm nay.
Đối với hoạt động cho vay ngân hàng mẹ. Tăng trưởng tín dụng được đóng góp tương đối đồng đều bởi cả cho vay bán lẻ lẫn KHDN với tăng trưởng hơn 20% ở cả 2 mảng. Điều này phản ánh nỗ lực đa dạng hóa danh mục cho vay của HDB. Động lực chính của KHDN vẫn đến từ hoạt động kinh doanh BĐS và xây dựng là 1 trong những trụ cột tăng trưởng tín dụng đến thời điểm hiện tại.
Đối với HDSaison, theo ước tính của FinSuccess, dư nợ cho vay cuối thời điểm Q2/2026 đạt khoảng 31 nghìn tỷ, tăng hơn 40% YTD. Lợi nhuận trước thuế Q2 rơi vào khoảng 370 tỷ, tăng trưởng âm so với cùng kỳ, khả năng do áp lực NIM và trích lập dự phòng theo xu hướng chung của ngành. Tuy nhiên, HDSaison đang cho thấy hoạt động kinh doanh hiệu quả, tăng trưởng cho vay tốt, nợ xấu vẫn đang kiểm soát trong khi đối thủ cạnh tranh đầu ngành là FE Credit thì dư nợ chỉ tăng trưởng nhẹ YTD, gần như đi ngang mấy năm gần đây và lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm sụt giảm mạnh (chỉ đạt 152 tỷ đồng) do phải trích lập dự phòng.
Tăng trưởng huy động chủ yếu đến từ huy động tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá với mức tăng trưởng YTD đạt khoảng 20% (KH 2026 tăng trưởng 27%). Quý 3 tiếp theo sẽ là thời điểm ký kết cũng như ghi nhận khoản vay offshore 721 triệu USD của HDB. Việc này sẽ tiếp tục củng cố dư địa vốn cho vay của HDB.
3. Biên lãi ròng (NIM)
NIM đã nhích nhẹ lên mức 4.1% (từ đáy 3.8% ở Q1/2026). Tuy nhiên, mức này vẫn thấp hơn rất nhiều so với Q2/2025. Việc cạnh tranh huy động cũng như cơ cấu huy động tập trung vào kỳ hạn dài khiến HDB gặp áp lực COF là tương đối lớn.
4. Chất lượng tài sản
Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất tăng lên mức 2.8%, chủ yếu đến từ ngân hàng mẹ. Tuy tỷ lệ bao phủ nợ xấu tương đối mỏng, LLR Q2 đạt 50% (đi ngang so với Q1), nhưng HDB vẫn duy trì được credit cost thấp để đổi lấy tăng trưởng lợi nhuận. Điều này có thể giải thích bởi HDB có tài sản bảo đảm chất lượng (BĐS dự án, hạ tầng/năng lượng xanh) thuộc hệ sinh thái xung quanh mình. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn là yếu tố cần tiếp tục theo dõi trong bối cảnh mặt bằng lãi suất cao cũng như bộ đệm dự phòng của HDB vẫn tương đối mỏng.
Vốn hóa hiện tại của HDB khoảng 126,000 tỷ VND với P/B fw theo KH2026 khoảng 1.1 lần. FinSuccess hi vọng khi mặt bằng lãi suất cũng như hoạt động cho vay đang dần ổn định hơn, HDB sẽ vừa cho thấy được tăng trưởng mạnh mẽ trong mặt lợi nhuận và cải thiện hơn về mặt chất lượng tài sản.